Học tiếng Đức phải lưu ý thành phần bổ sung câu như thế nào? (P1
Những bạn đã có một trình độ nhất định về tiếng Đức hẳn sẽ không xa lạ gì với khung văn phạm trong tiếng Đức với các tính từ chủ yếu.
Trong câu, thành phần bổ sung quan trọng nhất chính là Chủ ngữ (Subjekt). Ở trong câu tiếng Đức, chủ ngữ luôn có vị trí đứng ở cách một (Nominativ). Tùy thuộc và chủ ngữ đó là số ít hay số nhiều mà người ta chia động từ (Prädikat), hay nói cách khác là chúng ta chia vị ngữ theo chủ ngữ ở trong câu.

Một số động từ tiếng Đức.
Vị ngữ quyết định về cách của những thành phần bổ sung vị ngữ đi kèm theo (Objekt) khi ở trong câu. Vì vậy người ta thường ví von vị ngữ như là linh hồn trong câu nói. Thành phần bổ sung câu không chỉ có thành phần bổ sung vị ngữ mà chúng ta còn phải kể đến một thành phần khác có vai trò quan trọng không kém vị ngữ chính là thành phần bổ sung hoàn cảnh (adverbiale Ergänzungen).
Khi học tiếng Đức và đọc tiếng Đức, người ta hoàn toàn dễ dàng để nhận ra cũng như biết cách để sử dụng chủ ngữ và vị ngữ ở trong câu. Nhưng vấn đề phức tạp lại không nằm ở đó mà nằm ở những thành phần bổ sung vị ngữ và ở một số thành phần bổ sung khác cho câu. Sự phức tạp của những thành phần này không do vị trí của nó mà xuất phát từ sự biến đổi ghê gớm của một số loại từ trong quá trình học tiếng Đức, điển hình là các loại đại từ và tính từ. Tính từ dù biến đổi nhiều bao nhiêu thì vẫn có những quy tắc chặt chẽ. Đáng quan ngại hơn cả không phải tính từ mà là giới từ, vì khi tiếng Đức nâng cao bạn sẽ hiểu, trong tiếng Đức, giới từ tiếng Đức cũng đòi hỏi cách và chúng cũng có không ít ngoại lệ. Đôi khi rất khó phân biệt chúng.
Các thành phần bổ sung câu khi học tiếng Đức
1. Thành phần bổ sung vị ngữ (Objekt)
Có những động từ không phải lúc nào cũng đòi hỏi thành phần bổ sung vị ngữ, chẳng hạn như:
Es regnet. (Trời mưa.)
Sandra singt. (Sandra hát.)
Das Baby schläft. ( Đứa trẻ ngủ.)
>> Xem thêm: https://hoctiengduc.com
Tuy nhiên đa số động từ đòi hỏi ít nhất là một thành phần bổ sung, thậm chí có động từ còn yêu cầu hai thành phần bổ sung:
Chẳng hạn như:
Ich schenke dir eine Rose. (Tôi tặng em một bông hồng)
Ở trong câu trên chúng ta thấy phải thêm "... một bông hồng" vào sau "tôi tặng em..." thì câu nói mới hoàn chỉnh.
Thành phần bổ sung vị ngữ (Objekt-Ergänzung) phụ thuộc hoàn toàn vào Vị ngữ (Prädikat) và tương tự vậy Vị ngữ lại bị phụ thuộc vào Chủ ngữ (Subjekt).
Ví dụ:
Der Jäger (=Subjekt) schießt (= Prädikat) den Hasen (= Objekt).
Hành động bắn (schießt = Prädikat) trong câu ví dụ vừa rồi là hành động của người thợ săn (Der Jäger) được chĩa vào con thỏ (den Hasen). Hay nói cách khác, Con thỏ chính là đích nhắm đến của người thợ săn. Mặt khác, hành động này (động từ, Prädikat) cũng quyết định về cách (Fall, Kasus = cách) của thành phần bổ sung vị ngữ (Objekt). Động từ „schießen“ ở đây đòi hỏi bổ sung cách bốn (Akkusativ-Ergänzung)
- Chúng ta hoàn toàn có thể phân biệt các thành phần bổ sung vị ngữ tùy theo từng động từ theo cách như sau:
+ Vị ngữ đòi hỏi một thành phần bổ sung trực tiếp (Akkusativ-Ergänzung)
Ví dụ:
Liebst du mich auch?
Ich liebe dich.
+ Vị ngữ đòi hỏi một thành phần bổ sung gián tiếp (Dativ-Ergänzung)
Ví dụ:
Hilfst du mir auch?
Ich helfe dir.
+ Vị ngữ đòi hỏi một thành phần bổ sung cách hai (Genitiv-Ergänzung)
Ví dụ:
Gedachten sie der Verstorbenen?
Sie gedachten der Verstorbenen.
+ Vị ngữ đòi hỏi một chủ ngữ một Dativ-Ergänzung và một Akkusativ-Ergänzung.
Ví dụ:
Gibst du mir auch dein Geld?
Ich gebe dir mein Geld.
+ Vị ngữ đòi hỏi một thành phần bổ sung giới từ (Präpositionale-Ergänzung)
Ví dụ: Ich warte auf dich.
Der Sohn kämpft gegen seinen Vater.

Các thành phần bổ sung câu khi học tiếng Đức
2. Thành phần bổ sung trực tiếp trong câu khi học tiếng Đức
Để các bạn có thể nhìn thấy một cách rõ ràng hơn sự khác biệt giữa những thành phần bổ sung gián tiếp và những thành phần bổ sung trực tiếp, chúng ta sẽ đi vào những ví dụ cụ thể dưới đây:
1. Ich schenke dir einen Hut.
2. Ich schreibe dir einen Brief.
Nhìn chung một cách tổng thể thì bạn sẽ nghĩ ngay rằng hai câu nói này gần như hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa chúng nằm ở thành phần bổ sung của chúng.
- Trong câu thứ nhất, ta có động từ "schenken = tặng". Nếu xem xét câu nói này thì ta sẽ nghĩ ngay ra thành phần bổ sung trực tiếp cho "tặng" phải là "tặng ai?" sau đó mới đến "tặng ai đó cái gì?".
- Trong câu sau, "schreiben = viết" là động từ, vậy thành phần bổ sung trực tiếp cho "viết" hiển nhiên phải là "viết gì?" rồi sau đó là "viết cho ai?".
Từ đó, chúng ta có thể nhận ra nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau về cách giữa hai động từ trên thông qua ví dụ. Hẳn các bạn đều biết rõ động từ "chenken" đòi hỏi cách ba (Dativ), còn "schreiben" đòi hỏi cách bốn "Akkusativ".
a. Phần lớn động từ tiếng Đức đòi hỏi thành phần bổ sung trực tiếp ở cách bốn (Akkusativ).
Thí dụ: lieben, kochen, schlagen,…
Đối với những động từ này chúng ta chỉ cần nói theo sơ đồ "S – P – O" là ổn:
Er schlägt mich.
Ich liebe dich.
Tuy nhiên, có nhiều động từ phức tạp hơn vậy. Trong trường hợp chúng ta sử dụng động từ "viết = schreiben" như ở trên đôi khi lại phát sinh ra một nhu cầu bổ sung phụ cho động từ này.
Ich schreibe einen Brief.
Ich schreibe dir einen Brief.
Trong 2 câu trên, ở câu sau chúng ta thấy bên cạnh thành phần bổ sung trực tiếp "viết cái gì?" có thêm một thành phần bổ sung nữa là "viết cho ai?. Có thể thấy đây là thành phần bổ sung gián tiếp trong câu. Trong câu thành phần này phải đứng trong cách ba. Theo lẽ thường cách ba sẽ được đặt phía trước cách bốn trong câu.

Một số động từ tiếng Đức.
b. Một số ít động từ đòi hỏi thành phần bổ sung trực tiếp ở cách ba. Chúng là những động từ được gọi là Dativ-Verben. Chúng ta hoàn toàn có thể học thuộc những động từ thông dụng kiểu này vì chúng có số lượng khá là ít.
>> Xem thêm: https://vsipquangngai.com
Thí dụ: antworten, helfen, schenken…
Đặc biệt chú ý:
Ich schenke dir das Buch.
Ich schenke es dir.
Theo lẽ thông thường thì cách ba đứng trước cách bốn trong câu. Có thể đây là lí do mà người ta gọi tên cách theo thứ tự. Nhưng nếu trong trường hợp thành phần bổ sung cách bốn là một đại từ thay vì là một danh từ thì đại từ này sẽ được đặt trước cách ba như ở câu thứ hai.
Như vậy, các bạn đã được tìm hiểu về một số thành phần bổ sung câu khá quan trọng trong quá trình học tiếng Đức. Ở phần tiếp theo của chủ đề "Các thành phần bổ sung câu", chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu những thành phần bổ sung khác cũng quan trọng không kém ở trong câu nhé! Chúc các bạn học tiếng Đức tốt!





